29 thg 9, 2010

Lan Vanda (Vanda Jones)

Chi Vanda được phân bố rộng rãi từ Trung Quốc, Hymalaya, Đông Nam Á, Indonesia đến New Guinea và Bắc Úc Châu. Vanda có đến 70 loài thuần chủng và trên 1000 loài cây lai tạo, có màu sắc và hình dạng rất đẹp.
Nhiều loài Vanda thích hợp với khí hậu nóng, nhưng chăm sóc Vanda cũng khá vất vả. Vanda cần được tưới nước thật nhiều và cung cấp phân bón thường xuyên hơn các loài Lan khác do Vanda có nhiều rễ khí sinh to, dài, không thể gom rễ vào chậu và nhờ giá thể giữ ẩm. 

Khi mua cây Vanda chưa hoa về trồng, tôi được hứa hẹn là cây này hoa màu vàng, cây kia hoa màu tím, màu đỏ… nhưng khi cây ra hoa thì mới biết tất cả đều cùng một loài, một màu. Cây Vanda vườn nhà là Vanda lai, hình như là Vanda Josephine van Brero x Golden Triangle

 

hoadongnoi
Đọc tiếp >>

25 thg 9, 2010

Lan Giáng Hương (Aerides Lour.)

Chi lan Giáng Hương gồm những loài hoa có hình dáng và màu sắc đẹp, thường có hương thơm, là chi lan đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Ở Việt Nam có khoảng 7 loài phổ biến như Giáng Hương Lá Dày (Aerides crassifolia), Giáng Hương Quế (Aerides falcata), Giáng Hương Rẽ Quạt (Aerides flabellata), Giáng Hương Quế Nâu (Aerides houlletiana), Giáng Hương Nhiều Hoa / Đuôi Cáo (Aerides multiflora), Quế Lan Hương (Aerides odorata), Giáng Hương Hồng Nhạn (Aerides rubescens)...
Một số loài trong chi Giáng Hương dễ được nhận diện vì có cánh môi cuộn lại hình ống cong về phía trước mà người ta thường gọi là “cựa”.

Hoadongnoi rất thích Giáng Hương Đuôi Cáo, nhưng có lẽ khí hậu không thích hợp nên mấy năm rồi vẫn không chịu ra hoa dù cây phát triển rất tốt. Quế Lan Hương dễ tính hơn, đã ra hoa ở vườn nhà.

Một số hình ảnh về Giáng Hương vườn nhà:

Quế Lan Hương (Aerides odorata)

Quế Lan Hương cánh hoa màu vàng nhạt, cựa hơi ngả màu xanh, có hương thơm nhẹ:


Một loại Quế Lan Hương khác cánh hoa màu vàng đậm hơn, cựa màu nâu, đặc biệt là hương thơm rất nồng nàn:


Giáng Hương Hồng Dâu (Aerides odorata var. micholitzii)

Một biến thể khác của Aerides odorata, cánh hoa màu trắng pha hồng-tím. Tên của loài này hơi rắc rối và đôi khi hay bị nhầm lẫn, cả tên Tiếng Việt lẫn tên Latin. Có người gọi loài hoa này là Giáng Hương Hồng Dâu, có người gọi là Giáng Hương Hồng Nhạn. Tên khoa học là Aerides odorata var. micholitzii hoặc Aerides odorata var. rosea


hoadongnoi
Đọc tiếp >>

21 thg 9, 2010

Đoàn Chuẩn và những tình khúc mùa thu


Trong dòng nhạc trữ tình Việt Nam, những ca khúc viết về mùa thu được nhiều người biết đến nhất có lẽ là những tình khúc bất tử của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Trải qua nhiều thế hệ và trong suốt những biến động thăng trầm của đất nước, những ca khúc của ông vẫn được lưu truyền một cách trân trọng. Trong 12 ca khúc phổ biến nhất của ông, có đến 9 bài được sáng tác trong không gian mùa thu, dường như mùa thu luôn ẩn hiện trong những ca khúc của Đoàn Chuẩn.
Ngoại trừ những ca khúc có chủ đề chính là mùa thu như: Thu Quyến Rũ, Tà Áo Xanh, Lá Đổ Muôn Chiều, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Ánh Trăng Mùa Thu…, những ca khúc được yêu thích khác của Đoàn Chuẩn đều liên quan đến mùa thu.

Chẳng hạn như trong bài Tình Nghệ Sĩ (1948):

Đây khách ly hương mấy thu vàng ấm
Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng

Trong ca khúc Lá Thư (1948):

Nhớ tới mùa thu năm nao
mình anh lênh đênh rừng cùng sông
chiếc lá thu dần vàng theo…

Chuyển bến (1951):

Chiều nay sao dâng nhanh màu tím
Và mây bay theo nhau về bến
Thuyền cắm tay sào từ cuối thu…

Cánh hoa duyên kiếp (1953):

Hồng nào xinh không gai
bướm kia đâu ngờ bẽ bàng
yêu một sớm nhớ nhau bao mùa thu…
……………..
Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng thu
viết tơ lòng gửi tới cho nhau….

Nghe nhạc Đoàn Chuẩn, người nghe cảm nhận được một mùa thu rất thơ và bàng bạc một nỗi buồn sâu lắng, đôi khi day dứt đến xé lòng.

Thu Quyến Rũ (1950)

Bài hát bắt đầu với giai điệu và ca từ nhẹ nhàng

Anh mong chờ mùa thu
Trời đất kia ngả màu xanh lơ
Đàn bướm kia đùa vui bên muôn hoa…

Nhưng mùa thu không chỉ quyến rũ, mà còn khơi gợi những cảm xúc và hình ảnh đã được chôn dấu ở một góc khuất trong tâm hồn…

Mây bay về đây cuối trời
Mưa rơi làm rung lá vàng
Duyên ta từ đây lỡ làng
Còn đâu những chiều
Dệt cung đàn yêu

Thu nay vì đâu nhớ nhiều
Thu nay vì đâu tiếc nhiều
Đêm đêm nhìn cây trút lá
Lòng thấy rộn ràng
Ngỡ bóng ai về…


Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay (1952)

Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa

Chỉ với 4 câu trên, Đoàn Chuẩn đã vẽ ra một mùa thu lặng lẽ và nên thơ với những tà áo xanh đi trên con đường có lá thu bay bay đong đầy kỷ niệm của một thời.

Thấy hối tiếc nhiều
Thuyền đã sang bờ
Đường về không lối
Giòng đời trôi đã về chiều
Mà lòng mến còn nhiều
Đập gương xưa tìm bóng…

Nhưng rồi mối tình xưa cũng đành gửi gió cho mây ngàn bay…

Nhưng thôi tiếc mà chi
Chim rồi bay, anh rồi đi
Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng


Tà Áo Xanh (1954)

Tà Áo Xanh còn được biết đến dưới tên “Dang Dở”, viết về một mối tình không có đoạn kết

Gió bay từ muôn phía
tới đây ngập hồn anh,
rồi tình lên chơi vơi
Thuyền anh một lá ra khơi
về em phong kín mây trời
đêm đêm ngồi chờ sáng, mơ ai…
………………………………….
ta quen nhau mùa thu
ta thương nhau mùa đông
ta yêu nhau mùa xuân
để rồi tàn theo mùa xuân
người về lặng lẽ sao đành

Một đám cưới đã làm dở dang mối tình ngày ấy:

Rồi chiều nao xác pháo
bên thềm tản mác bay
em đi trong xác pháo
anh đi không ngước mắt
thôi đành em

Ca khúc của Đoàn Chuẩn giàu hình ảnh và có tính biểu tượng cao nên người nghe dễ hòa mình vào cảm xúc của nhân vật. Có lẽ đó cũng là một trong những lý do khiến nhạc của ông có nhiều người hâm mộ đủ mọi lứa tuổi.

Lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn
hoa mai rơi từng cánh trên đường
lạnh lùng mà đi tiếc nhớ thêm chi
hoa tàn nhạc bay theo không gian…


Lá Đổ Muôn Chiều (1954)

Cũng viết về một mối tình dang dở, một đám cưới mùa thu đầy nước mắt, nhưng Lá Đổ Muôn Chiều mang nỗi nhớ nhung da diết và nỗi buồn tê tái, nặng trĩu, làm thổn thức trái tim người nghe. Lá Đổ Muôn Chiều không chỉ tuyệt vời về giai điệu, mà ca từ cũng rất chọn lọc, mượn hình ảnh để diễn tả tâm trạng một cách tự nhiên và đầy biểu cảm.

Thu đi cho lá vàng bay,
Lá rơi cho đám cưới về
Tình anh một con thuyền bé chìm sâu đại dương một đêm nổi sóng

Một con thuyền bé chìm sâu đại dương một đêm nổi sóng”… một hình ảnh thật sống động, phản ánh tâm hồn đầy bão tố của nhân vật mà không cần phải trực tiếp diễn tả.

Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
Tiếc mà chi dang dở phút phân ly
Thuyền phiêu lãng từ nay không bến đỗ…

Với phương pháp so sánh, Đoàn Chuẩn khéo léo diễn tả sự kiện bằng những hình ảnh thật thơ mộng. Chẳng hạn như hình ảnh “lá vàng bay” liên kết với mối tình dở dang, “thuyền rời xa bến vắng” liên kết với sự chia tay, “huớng dương tàn tạ” liên kết với những ngày tháng tình yêu thăng hoa rồi lụi tàn, cũng như bông hoa bừng nở rồi héo úa…

Thôi thế từ nay như lá vàng bay tình lỡ rồi
Thuyền rơi xa bến vắng người ơi
Hướng dương tàn tạ trong đêm tối
Còn nhớ phương nào hoa đã rơi…

Đoạn kết của Lá Đổ Muôn Chiều như một khoảng lặng tê tái:

Nhưng mỗi mùa thu chiếc lá vàng bay về cuối trời.
Thuyền tình không bến đỗ người ơi.
Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát.
Đời vắng em rồi vui với ai...

Có nhiều người cho rằng Từ Linh, người cùng đứng tên tác giả trong các ca khúc của Đoàn Chuẩn chính là người viết lời cho những ca khúc này. Nhưng theo gia đình Đoàn Chuẩn, khi sáng tác ông thường hội ý với Từ Linh về ca từ, do yêu quý người bạn này nên Đoàn Chuẩn luôn ghi tên Từ Linh phía sau tên mình, ngay cả những bài được viết sau năm 1954 khi Từ Linh đã di cư vào Nam. Chỉ thấy rằng, những ca khúc của ông trở thành bất tử không chỉ do giai điệu hay, mà phần lớn còn do ca từ thật đẹp, hết sức chân thành và biểu cảm.


Ánh Trăng Mùa Thu (1947)

Trong số những tình khúc mùa thu của Đoàn Chuẩn, bài “Ánh Trăng Mùa Thu” ít được biết đến nhất. Đây là sáng tác đầu tiên của Đoàn Chuẩn, ra đời năm 1947. Nhưng vì lý do riêng nào đó, Đoàn Chuẩn không cho in ca khúc này trong các tuyển tập nhạc của ông. Mãi đến năm 2002, một năm sau khi Đoàn Chuẩn qua đời, ca khúc này mới được chính thức công bố.



Ánh Trăng Mùa Thu
Sáng tác: Đoàn Chuẩn - Từ Linh.

Chờ trăng lên ánh trăng e lệ mãi
Vương vấn mong lá rơi bên thềm vắng
Gió thu như cùng chia mối u sầu
Của bóng cây tàn lá trong đêm hờ hững

Rồi trăng lên ánh trăng mơ huyền quá
Âu yếm hoa ý thơ dịu dàng say
Nghe ý thơ xác hoa vô tình vương
dưới ánh trăng mùa thu

Bao nhiêu tâm hồn cùng mơ dưới trăng
Hiu hiu gió may lả lướt bóng ai
Lưng trời tiếng hát mơ hồ của một kiếp
Đến nay còn mơ trong ánh trăng mùa thu

Một thuyền lan dưới trăng thu lờ lững
Trôi đến đâu biết nơi đâu là bến
Bên liễu xanh u buồn trong mối tóc dài
hay tới nơi bờ vắng khi trăng tàn úa

Lòng hờn trăng cuốn thêm bao đời lá
Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa
Hoa đã phai sắc hương kia còn đâu
dưới ánh trăng mùa thu

Khi con thuyền đời về đây với trăng
Khi bao nhớ thương phai với tháng năm
Con thuyền mơ tới nơi nào chăng còn nhớ
Bến đa tình xưa trong ánh trăng mùa thu

Chờ trăng lên cớ sao e lệ mãi
Than tiếc chi mối duyên nay đà lỡ
Âu yếm ai, ai liền đi đến bên mành
Nhưng cớ sao lảng tránh hương xưa tình cũ…

Rồi thời gian đến phai bao lời hứa
Duyên thắm xưa chắc ai kia còn ghi
Tâm tính xưa chắc ai kia đổi thay
Dưới ánh trăng mùa thu

Khi đôi tâm hồn cùng mơ dưới trăng
Khi đôi mắt nhung âu yếm trách ai
Mỗi lần trăng sáng bên thềm ta lại nhớ
Mối duyên thầm xưa trong ánh trăng mùa thu…

hoadongnoi
Đọc tiếp >>

15 thg 9, 2010

Chiếc lồng đèn cuối cùng



“Tết Trung Thu”, ba chữ này đối với tôi ngày ấy đem lại một cảm giác nôn nao, rộn ràng khó tả. Tết Trung Thu là một sự kiện đặc biệt, vì trước đó vài tuần lũ trẻ con chúng tôi đã được dẫn đi mua lồng đèn, mua nến, rồi vào ngày Trung Thu còn được ăn bánh nướng, bánh dẻo, sau ngày rằm tháng 8 lại là ngày giỗ của Bà Nội tôi. Hồi đó đám giỗ Bà Nội có rất đông họ hàng đến nhà, vì vậy mẹ tôi phải chuẩn bị đồ cúng suốt mấy ngày trước. Cái không khí hội hè tất bật đó càng làm cho lũ trẻ con phấn khích, mong chờ đến ngày rằm tháng 8.
Tôi đã từng có nhiều chiếc lồng đèn khác nhau, nhưng chiếc lồng đèn cuối cùng của thời thơ ấu cho đến bây giờ vẫn còn lung linh trong ký ức của tôi.

Đó là chiếc lồng đèn hình mặt trăng, gồm 3 mặt trăng tròn vành vạnh ghép vào theo hình tam giác khi nhìn từ trên xuống. Chiếc lồng đèn mặt trăng bọc giấy kiếng màu vàng, khi thắp nến trong đêm, lồng đèn toả ánh sáng vàng như một vầng trăng nhỏ. Một vầng trăng của riêng tôi, chứa đựng một khoảng trời riêng với cây đa, chú cuội và nàng Hằng Nga đêm đêm buồn rầu nhìn xuống trần gian. Trong khi anh em tôi vui thích với những chiếc lồng đèn tàu thủy, xe tăng, con thỏ, con nai… thì đứa bé sớm mơ mộng là tôi lại chọn chiếc đèn mặt trăng vô cùng đơn giản.

Những năm sau đó, tôi không đòi mẹ mua lồng đèn mới nữa, mà tự làm mới chiếc lồng đèn của mình. Tôi cắt giấy kiếng theo hình tròn, phết hồ, dán lên khung tre. Khi dán vào khung, dù dán khéo thế nào thì giấy vẫn bị thụng, vì vậy có người bảo tôi dùng khăn ướt lau lên giấy kiếng rồi phơi ra nắng. Quả thật, sau khi phơi, giấy kiếng căng lên và thẳng như vừa được ủi. Sau đó là phần trang trí cho lồng đèn. Nếu dùng màu nước để vẽ trên giấy kiếng thì sẽ không lên màu, vì vậy tôi pha màu nước với kem đánh răng (không nhớ là có ai chỉ hay là tôi tự nghĩ ra, hồi đó tôi thích vẽ lắm). Sau khi hoàn tất “tác phẩm” của mình, tôi để lồng đèn trên bàn cho khô màu, rồi đi ngủ. Sáng dậy, tôi thấy những mảng màu trên lồng đèn đã bị cạo nham nhở, thủ phạm là những con gián, chúng rất thích ăn kem đánh răng!

Lớn lên một chút, chúng tôi lại được người anh con bác làm cho một chiếc đèn kéo quân. Đã từng đọc về đèn kéo quân trong sách vở nên chúng tôi rất mong chờ được chơi chiếc đèn đặc biệt này. Anh đi mua tre về chẻ ra làm khung, mua giấy màu, cắt bìa làm hình… còn tôi lăng xăng theo anh phụ việc. Chiếc đèn này rất lớn, cao khoảng 60cm. Anh hì hục làm đèn mất mấy ngày, đến khi thắp nến lên thì đèn không quay. Chiếc đèn kéo quân đó mãi mãi không thể quay được, nhưng trong trí tưởng tượng của tôi nó vẫn quay, ánh nến của chiếc đèn lồng vẫn lấp lánh tình anh em mà lớp bụi thời gian không thể xóa nhòa.

Không những lồng đèn Trung Thu lôi cuốn bọn trẻ con chúng tôi, mà những cây đèn cầy đủ màu sắc cũng có sức hút không kém. Chúng tôi nhập bọn với lũ trẻ trong xóm, đổi đèn cầy với nhau, rồi rước đèn đi quanh xóm, ca hát vang lừng. Nhìn lên vầng trăng thu sáng vằng vặc, chúng tôi tranh nhau chỉ đâu là cây đa, đâu là chú Cuội. Thỉnh thoảng tôi lại chạy về nhà xem mẹ làm bánh cúng, mẹ đã để riêng những chiếc bánh bị “bể bụng” cho chúng tôi.

Mùa Trung Thu lại đến, nhưng giờ đây thật khó để tìm một cửa hàng có bán lồng đèn, trong khi những quầy bán bánh Trung Thu lại mọc lên khắp nơi. Hình như Trung Thu bây giờ là của người lớn, một dịp để người ta biếu xén nhau những hộp bánh trị giá vài trăm ngàn đến hơn triệu đồng. Trẻ con thì thờ ơ với những chiếc lồng đèn bằng nhựa hình Tề Thiên, Trư Bát Giới hay siêu nhân. Mùa trăng đã không còn đẹp như mùa trăng ngày cũ.

Một đêm Trung Thu, tôi thắp sáng những chiếc lồng đèn xếp treo trên balcon và đứng ngắm vầng trăng tròn đang tỏa sáng. Ánh trăng lạnh quá, một thứ ánh sáng trắng bạc tràn đầy không gian. Và đứa-trẻ-trong-một-người-lớn đang lặng nhìn cây đa trên vầng trăng xa tít. 


Trải qua nhiều năm tháng, cây đa vẫn còn đó trên vầng trăng thu, nhưng những đêm Trung Thu rộn ràng của ngày cũ đã chìm lấp trong lớp sóng thời gian.

Riêng chiếc lồng đèn hình trăng vàng của tôi dường như vẫn được thắp sáng ở đâu đó… nơi mà tiếng hát của một thời còn văng vẳng:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ…

hoadongnoi
Đọc tiếp >>

14 thg 9, 2010

Lan Vũ Nữ (Oncidium)


Lan Vũ Nữ (Oncidium Swartz) là một chi lớn của họ Phong Lan, phân bố rộng rãi ở Nam Mỹ, có khoảng 750 loài với hình dạng và màu sắc hoa rất đẹp và đa dạng.
Tại Việt Nam, từ lâu lan Vũ Nữ được nhập nội và lai tạo cho nhiều loài hoa khác nhau, đặc biệt ở Lâm Đồng có nhiều loài Vũ Nữ rất đẹp. Riêng ở vườn nhà, có 2 loài Vũ Nữ “dễ tính” có thể chịu được khí hậu nắng nóng và ra hoa quanh năm.

Vũ Nữ Sharry baby

Vũ Nữ Sharry baby có màu trắng và nâu đỏ, màu sắc tuy không rực rỡ nhưng thật đẹp và quý phái. Lá Vũ Nữ Sharry baby thường có nhiều đốm nâu, tuy không lây bệnh sang các loài Vũ Nữ khác, nhưng không thể nào diệt trừ được bệnh này dù đã dùng nhiều loại thuốc trừ nấm bệnh khác nhau. Trước đây, khi để giả hành phát triển tự nhiên chen kín trong chậu, cây ra hoa rất nhiều và rất mạnh. Sau này, khi sang thành 2 chậu thì cây yếu đi và ít hoa hơn.


Vũ Nữ vàng

Vũ Nữ vàng có nhiều loài rất phổ biến như Oncidium Taka, Oncidium Gower Ramsey, Oncidium Sweet Sugar… nhưng do được lai tạo quá nhiều nên có tìm tên của chúng cũng khó mà chính xác. Tôi gọi chúng đơn giản là “Vũ Nữ vàng”. Loại này dễ trồng và hoa khá lâu tàn. Khi nở rộ, những bông hoa Vũ Nữ này giống như đàn bướm vàng bay chấp chới trong vườn khiến khu vườn có sức sống hơn. 


Vũ Nữ cam

Khi hình ảnh của loài hoa này được post lên, thì cây đã không còn tồn tại trong vườn nhà. Sau khi ra hoa, cây cứ héo mòn dần rồi chết. Cả Vũ Nữ Mèo Hoang, Hải Luân… cũng vậy, có lẽ vì không thích hợp khí hậu.


Vũ Nữ Mèo Hoang (Oncidium Wild Cat)

Có nhiều loài Vũ Nữ Mèo Hoang, một số loài cũng khá đẹp, riêng con “mèo hoang” này vằn vện trông thật dễ sợ…


hoadongnoi
Đọc tiếp >>

7 thg 9, 2010

Hoa dại Đà Lạt


Bên cạnh những loài hoa được trồng và chăm sóc, các loài hoa dại của Đà Lạt cũng góp phần làm nên vẻ đẹp của thành phố cao nguyên này. Có loài hoa nhiều màu như hoa Ngũ Sắc, màu đỏ rực rỡ như Dâm Bụt, cũng có loài hoa màu trắng đơn giản và nhỏ bé nhưng vẫn có vẻ độc đáo riêng của nó. Cùng với không gian xanh chung quanh, cành cây, lá cây và hoa dại tạo nên một vẻ đẹp hài hòa và tự nhiên, không cần đến sự sắp đặt của con người.
Do không có thời gian “săn ảnh”, nên tôi cứ bấm máy không đắn đo mỗi khi nhìn thấy hoa, cũng không kịp hỏi tên các loài hoa đồng cỏ nội này. Có lẽ các bạn ở Đà Lạt có thể gọi tên chúng.

Một màu tím mơ màng trên những cánh hoa…


Hoa Bồ Oanh mọc dại…


Tội nghiệp cho những bông hoa này, được gọi bằng cái tên không mấy thanh nhã… Bạn có biết tên chúng là gì không?


Một dạng hoa Cúc, hình như không phải là Cúc Quỳ / Dã Quỳ…


Hoa Cúc Muôi (Tridax procumbens):


Hoa Tàu Bay (Gynura crepidioides):


Không biết đây có phải là hoa Bồ Công Anh?...


Hoa Dâm Bụt:


Hoa Ngũ Sắc / Trâm Ổi:


Hoa Hồng dại:


Một số hoa dại khác:




Thùa Thối / Dứa sợi (Furcraea foetida):


Quả dại và lưới nhện…


Những giọt mưa đọng trên đầu lá thông lấp lánh như những hạt kim cương…


hoadongnoi
Đọc tiếp >>